Hệ thống phòng không David’s Sling bản nâng cấp được giới thiệu có khả năng đánh chặn nâng cao chống lại các mối đe dọa từ tên lửa và máy bay không người lái.











Tổng công trình sư máy tính | Kiến trúc sư trưởng máy tính | Chuyên gia máy tính











Hệ thống phòng không SAMP/T (Surface-to-Air Missile Platform/Terrain), còn được gọi là MAMBA, là một trong những thành tựu công nghệ quân sự nổi bật của châu Âu, do Tập đoàn Eurosam – liên doanh giữa MBDA Italy, MBDA France và Thales phát triển.Công nghệ siêu tên lửa Aster-30: Hạ gục tên lửa đạn đạo, đánh chặn cả tên lửa siêu thanh
Được thiết kế để đối phó với các mối đe dọa trên không, từ máy bay, tên lửa hành trình đến tên lửa đạn đạo chiến thuật, SAMP/T đã khẳng định vị thế như một đối thủ cạnh tranh đáng gờm với các hệ thống phòng không khác, bao gồm cả Patriot của Mỹ.
Dựa trên các nguồn tin Meta-Defense, DW, Missilery.info, Business Insider, Defense News, Wall Street Journal và Financial Times, bài viết sẽ phân tích tổng quan về công nghệ, hiệu quả và những thách thức mà SAMP/T đang đối mặt, đặc biệt trong bối cảnh ứng dụng thực tiễn tại Ukraine.


Tổng quan về hệ thống SAMP/T
SAMP/T là hệ thống phòng không di động tầm trung, được thiết kế để bảo vệ các đơn vị cơ giới hóa và các cơ sở chiến lược khỏi các cuộc tấn công từ trên không. ‘Siêu’công nghệ tên lửa Red Wolf, Green Wolf Mỹ: ‘Bầy sói mới’ khiến phòng không ‘tắt sóng’
Hệ thống sử dụng tên lửa Aster-30, có khả năng đánh chặn mục tiêu ở khoảng cách lên đến 120km đối với mục tiêu khí động học và 60km đối với tên lửa đạn đạo.
Với radar Arabel 3D, SAMP/T có khả năng phát hiện và theo dõi hơn 1000 mục tiêu đồng thời, mang lại khả năng phòng thủ toàn diện 360 độ, một lợi thế so với hệ thống Patriot, vốn bị hạn chế về góc phủ sóng cho đến khi tích hợp radar LTAMDS.
Phiên bản nâng cấp SAMP/T NG, dự kiến được triển khai từ cuối năm 2025, hứa hẹn nâng cao khả năng đánh chặn với tầm bắn tối thiểu 150km và khả năng đối phó với tên lửa đạn đạo chiến thuật có tầm bắn 600km.
Điều này giúp SAMP/T trở thành một trong những hệ thống phòng không tiên tiến nhất, đáp ứng nhu cầu bảo vệ không gian chiến trường hiện đại.
Ứng dụng thực tiễn và hiệu quả
SAMP/T đã được Pháp và Ý triển khai để bảo vệ các khu vực chiến lược, bao gồm cả việc triển khai tại Romania để củng cố sườn phía Đông của NATO. Công nghệ tên lửa MANPADS của MBDA: ‘Cơn ác mộng’ cho UAV và trực thăng
Tại Ukraine, hệ thống này do Pháp và Ý cung cấp nhằm tăng cường khả năng phòng không trước các cuộc tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái (UAV) của Nga. Tuy nhiên, hiệu quả của SAMP/T tại Ukraine đã gây ra nhiều tranh cãi.
Wall Street Journal và Le Monde cho rằng hệ thống gặp vấn đề về phần mềm, dẫn đến việc không thể đánh chặn hiệu quả các tên lửa đạn đạo tại Ukraine.
Tỷ lệ bắn hạ máy bay không người lái cũng giảm mạnh từ 90% trong năm 2024 xuống còn 30% vào năm 2025, phần lớn do thiếu hụt tên lửa Aster-30 và các hạn chế kỹ thuật của radar Arabel.
Tuy nhiên, các nguồn khác, khẳng định rằng SAMP/T và tên lửa Aster-30 đã hoạt động tốt trong việc đối phó với các mối đe dọa tên lửa đạn đạo chiến thuật (TBM).
Những ý kiến trái chiều này cho thấy sự phức tạp trong việc đánh giá hiệu quả của hệ thống trong môi trường chiến đấu thực tế.


Thách thức và hạn chế
Một trong những thách thức lớn nhất của SAMP/T là vấn đề nguồn cung tên lửa Aster-30. Theo DW, Ukraine đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng tên lửa này, trong khi kho dự trữ của Ý cũng đã cạn kiệt và Pháp chưa cam kết cung cấp thêm.Tên lửa tầm xa Mỹ, công nghệ thay đổi cuộc chơi hay ngòi nổ xung đột Nga-Ukraine?
Điều này làm dấy lên câu hỏi về khả năng duy trì hoạt động của hệ thống trong các chiến dịch kéo dài.
Bên cạnh đó, radar Arabel của SAMP/T, mặc dù có khả năng phát hiện và theo dõi mục tiêu tốt, lại gặp khó khăn khi đối phó với các mục tiêu tốc độ cao hoặc trong môi trường nhiễu sóng mạnh.
Những hạn chế này, cùng với vấn đề phần mềm, đã khiến một số nhà quan sát so sánh SAMP/T với Patriot, cho rằng hệ thống của Mỹ vẫn có ưu thế trong một số kịch bản chiến đấu.
Tầm quan trọng chiến lược và triển vọng tương lai
Mặc dù gặp phải một số khó khăn, SAMP/T vẫn được xem là một phần quan trọng trong chiến lược phòng không của châu Âu, đặc biệt trong bối cảnh các quốc gia châu Âu tìm cách giảm sự phụ thuộc vào công nghệ quân sự Mỹ.
Theo Business Insider, SAMP/T là một trong những giải pháp thay thế tiềm năng cho các hệ thống như Patriot, HIMARS hay Abrams, thể hiện tham vọng tự chủ công nghệ quốc phòng của châu Âu.
Việc Pháp và Ý đặt hàng phiên bản SAMP/T NG vào năm 2024 cho thấy cam kết mạnh mẽ trong việc nâng cấp và mở rộng hệ thống này.
Dự kiến, từ năm 2026, SAMP/T NG sẽ được cung cấp cho các quốc gia khác, mở ra cơ hội xuất khẩu và tăng cường khả năng phòng thủ chung của NATO.
Ngày 15/4/1907, Phân hạm đội Thái Bình Dương hợp nhất với Phân hạm đội châu Á thành Hạm đội Thái Bình Dương. Năm 1922, Hạm đội Thái Bình Dương và Hạm đội Đại Tây Dương hợp nhất thành Hạm đội Mỹ. Ngày 1/2/1940, thực hiện chủ trương “Hải quân 2 đại dương”, Hạm đội Thái Bình Dương và Hạm đội Đại Tây Dương được tái lập.
Giai đoạn Chiến tranh Thế giới lần thứ II, Hạm đội Thái Bình Dương đã tham gia nhiều chiến dịch quan trọng. Giai đoạn sau đó, do Mỹ chú trọng khu vực châu Âu nên quy mô của Hạm đội Thái Bình Dương bị thu nhỏ, nhiều ưu tiên được giành cho Hạm đội Đại Tây Dương.
![]() |
| Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ. Ảnh: Defensenews |
Từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay, trọng điểm chiến lược của Mỹ từng bước chuyển sang khu vực châu Á – Thái Bình Dương, lực lượng của Hạm đội Thái Bình Dương cũng từng bước được tăng cường, vị trí của Hạm đội Thái Bình Dương ngày càng trở nên quan trọng.
Đến nay, Hạm đội Thái Bình Dương trở thành tập đoàn tác chiến hải quân mạnh nhất của Mỹ, chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và đại bộ phận Bắc Băng Dương (chiếm 70% tổng diện tích biển và đại dương toàn cầu, lớn gấp 2,55 lần diện tích khu vực quản lý của Hạm đội Đại Tây Dương).
Tập đoàn tác chiến hải quân mạnh nhất của Mỹ
Nhiệm vụ chủ yếu của Hạm đội Thái Bình Dương là: Phòng ngự trên biển hướng bờ Tây nước Mỹ và tác chiến trên biển trong các khu vực tác chiến Thái Bình Dương và trung tâm; Huấn luyện cho lực lượng tác chiến hải quân thuộc các Bộ tư lệnh Thái Bình Dương, Bộ tư lệnh Trung tâm, Bộ tư lệnh Phương Bắc, Bộ tư lệnh Phương Nam, Bộ tư lệnh chiến lược và các bộ tư lệnh khác. Bộ tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương đóng tại căn cứ Trân Châu Cảng, Hawaii.
Hạm đội Thái Bình Dương được biên chế thành 3 hạm đội lớn là Hạm đội 3, Hạm đội 5 và Hạm đội 7.
Hạm đội 3 đóng tại căn cứ San Diego, California. Nhiệm vụ chủ yếu là chỉ huy tác chiến trên biển ở khu vực Đông Thái Bình Dương. Kỳ hạm là tàu chỉ huy Koronod.
Hạm đội 5 đóng tại Manamah, Bharain, nhiệm vụ chủ yếu là chỉ huy tác chiến trên biển ở khu vực Trung Đông. Đây là hạm đội duy nhất của hải quân Mỹ không có kỳ hạm và lực lượng thường trực cố định. Toàn bộ lực lượng của hạm đội đều do bộ phận đóng tại Mỹ và Hawaii luân phiên đổi trực 6 tháng 1 lần.
Khi xảy ra chiến tranh, Hạm đội 5 sẽ được tăng cường lực lượng từ các hạm đội khác. Trong các cuộc chiến tranh ở khu vực Trung Đông, Hạm đội 5 luôn là nòng cốt trong việc tổ chức chỉ huy tác chiến trên biển.
Hạm đội 7 đóng tại căn cứ Yokosuka, Nhật Bản. Kỳ hạm là tàu chỉ huy Blue Ridge, khi tàu này phải sửa chữa lớn thì tàu chỉ huy Koronod sẽ thay thế.
Đây là hạm đội tiền duyên lớn nhất của hải quân Mỹ trên khu vực châu Á – Thái Bình Dương với phạm vi hoạt động rộng lớn, gồm: Tây Bắc Thái Bình Dương, Tây Thái Bình Dương, Tây Nam Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương và biển Ảrập; phía bắc tới quần đảo Thousand, phía nam tới châu Nam Cực, phía đông bắt đầu từ Đường đổi ngày (gần kinh tuyến 180 độ kinh Đông từ Bắc Cực qua eo biển Bering, Thái Bình Dương cho đến Nam Cực), phía tây qua Ấn Độ Dương tới bờ biển phía đông châu Phi.
Để đảm trách được địa bàn rộng lớn này, lực lượng tác chiến của Hạm đội 7 thường tổ chức biên chế thành nhiều hạm đội đặc nhiệm hỗn hợp để thực hiện những nhiệm vụ tác chiến khác nhau.
Lực lượng hùng hậu
Lực lượng của Hạm đội Thái Bình Dương khi cao nhất khoảng 230.000 quân (gồm cả hơn 90.000 lính hải quân đánh bộ), 230 tàu chiến và 1.600 máy bay các loại. Trong đó, tàu chiến thường gồm: 6 tàu sân bay, 10 tàu ngầm tên lửa hạt nhân chiến lược, 26 tàu ngầm tấn công động lực hạt nhân, 12 tàu tuần dương tên lửa, 28 tàu khu trục tên lửa, 15 tàu hộ vệ tên lửa, 19 tàu tác chiến thủy/bộ, 6 tàu quét lôi, 4 tàu tuần tiễu, 100 tàu đảm bảo hậu cần và vận tải…
Lực lượng tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương được chia thành 4 Bộ tư lệnh tác chiến: Bộ tư lệnh tàu mặt nước, Bộ tư lệnh hàng không, Bộ tư lệnh tàu ngầm và Bộ tư lệnh hải quân đánh bộ hạm đội.
Hạm đội Thái Bình Dương có 41 căn cứ, trong đó, 27 căn cứ đóng tại phía tây bờ biển nước Mỹ, 3 căn cứ tại Hawaii, 2 căn cứ tại đảo Guam, 6 căn cứ đóng tại Nhật Bản, 1 căn cứ tại Singapore, 1 căn cứ tại Diego Garcia – Ấn Độ Dương, 1 căn cứ đóng tại Bharain.
Với vai trò là một trong những tập đoàn tác chiến mạnh nhất trên toàn cầu hiện nay, lực lượng của Hạm đội Thái Bình Dương đang là nòng cốt trong việc thực hiện các nhiệm vụ chiến lược của Mỹ đối với khu vực Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương như: Kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc; Giám sát, xử lí tình hình bán đảo Triều Tiên cũng như vấn đề hạt nhân của Iran…
Nguyên Phong
Hạm đội 7 của hải quân Mỹ hoạt động tại Thái Bình Dương suốt gần 70 năm qua, với sự góp mặt của rất nhiều chiến hạm lừng danh.








Xem thêm: Soái hạm Mỹ tới Philippines



Nhật Nam (Ảnh: US Navy)
K-329 Belgorod là lớp tàu ngầm hạt nhân xuyên lục địa được chế tạo theo Dự án 09852 cho Hải quân Nga. Tàu do Sevmash, một công ty đóng tàu thuộc tập đoàn United Shipbuilding (USC) của Nga, chế tạo.
Belgorod có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau như tấn công hạt nhân, nghiên cứu, thử nghiệm thiết bị nghiên cứu mới, và cứu hộ cứu nạn. Tàu ngầm này đã thực hiện thành công một loạt vụ phóng thử nghiệm ngư lôi Poseidon vào tháng 1 năm ngoái. Các cuộc thử nghiệm đã chứng minh được hiệu suất của tàu ngầm ở các độ sâu khác nhau.
![]() |
| K-329 Belgorod là lớp tàu ngầm hạt nhân xuyên lục địa do Sevmash, một công ty đóng tàu thuộc tập đoàn United Shipbuilding (USC) của Nga, chế tạo. Ảnh: Military Leak |
Thiết kế của Belgorod dựa trên tàu ngầm lớp Oscar II. Tàu có chiều dài 184m, rộng 18,2m và có lượng giãn nước hơn 14.700 tấn khi nổi và 24.000 tấn khi lặn. Nó có thể lặn tới độ sâu 520m và hoạt động dưới nước khoảng 4 tháng.
Theo nhà sản xuất, Belgorod có thể mang theo trạm hạt nhân nước sâu AS-15 và các tàu ngầm nhỏ chạy bằng năng lượng hạt nhân để tiến hành các hoạt động bí mật dưới biển sâu. Belgorod hoạt động bằng hai lò phản ứng nước điều áp có công suất gần 255.000 mã lực, do đó tàu có thể đạt vận tốc tối đa hơn 59km/giờ.
Belgorod được trang bị 6 ngư lôi hạt nhân Poseidon cùng 6 ống phóng ngư lôi 533mm. Poseidon là loại ngư lôi tự động mang đầu đạn hạt nhân có đương lượng nổ 100Mt, chạy bằng năng lượng từ lò phản ứng hạt nhân. Ngư lôi này có chiều dài ước tính 24m và đường kính 1,6m. Nó có thể hoạt động ở độ sâu tối đa 1.000m và có khả năng hoạt động 10.000km và hoạt động liên tục khoảng 100 giờ. Đây là ngư lôi lớn nhất thế giới và là một vũ khí chiến lược có thể tấn công các căn cứ hải quân và các thành phố ven biển.
Tàu ngầm K-329 Belgorod dự kiến sẽ được đưa vào phục vụ lực lượng tàu ngầm của Hạm đội Thái Bình Dương Nga trong năm 2025.
| Nguồn: Future Machine Tech |
CHUNG ANH (Theo Naval Technology)
Hơn 50% trong tổng số 1.744 vũ khí hạt nhân của Mỹ đang được lắp đặt trên các tàu ngầm tên lửa. Đây là các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSBN) lớp Ohio do công ty General Dynamics Electric Boat sản xuất.Được chế tạo trong giai đoạn 1976 – 1997 và đưa vào hoạt động trong suốt những năm 1980 và 1990, 14 chiếc SSBN lớp Ohio của Hải quân là toàn bộ thành phần trên biển trong lực lượng răn đe hạt nhân của Mỹ. Mỗi chiếc SSBN được trang bị tới 24 tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) Trident II, với mỗi tên lửa có khả năng mang đầu đạn hạt nhân sử dụng công nghệ đa đầu đạn phân hướng tấn công nhiều mục tiêu độc lập (MIRV).
Những MIRV này mang đầu đạn hạt nhân có sức công phá từ 5 – 7 kiloton (tương đương 5 – 7 tấn thuốc nổ TNT) đến 475 kiloton, đủ để san phẳng một khu vực đô thị lớn.
Mỗi tên lửa Trident mang từ 1 – 14 đầu đạn, đồng nghĩa, một tàu ngầm lớp Ohio có thể chứa tới 336 quả bom hạt nhân, đủ sức tàn phá bất kỳ quốc gia nào trên Trái đất.


Số lượng tàu ngầm mang tên lửa hành trình
Hải quân Mỹ đang vận hành 4 tàu ngầm mang tên lửa hành trình (SSGN). Đây là các tàu SSBN lớp Ohio được chuyển đổi thành SSGN vào những năm 2000, sử dụng hệ thống phóng thẳng đứng cho phép chúng mang theo hàng chục tên lửa hành trình Tomahawk.
Mỗi ống phóng trong số 22 ống phóng của mỗi tàu ngầm hoán cải chứa tới 7 quả Tomahawk, tức tổng cộng 154 tên lửa hành trình. Trong đó, các tên lửa Tomahawk có thể được trang bị cả đầu đạn thông thường và đầu đạn hạt nhân với sức công phá từ 5 – 150 kiloton.
SSGN cũng có thể chuyên chở các quân nhân tham gia những sứ mệnh đặc biệt, bí mật ở các bờ biển xa.


Dàn tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân
Theo Sputnik, Mỹ hiện sở hữu hơn 50 tàu ngầm tấn công nhanh, đều vận hành nhờ các lò phản ứng hạt nhân. Chúng bao gồm 29 tàu ngầm lớp Los Angeles, chế tạo từ đầu những năm 1970 – 1996, được trang bị ngư lôi Mk 48, tên lửa chống hạm Harpoon và tên lửa tấn công mặt đất Tomahawk; 22 tàu ngầm lớp Virginia mới hơn, bắt đầu biên chế hoạt động giữa những năm 2000 và 3 tàu thuộc lớp Seawolf, trị giá 3 tỷ USD cũng được trang bị cùng loại vũ khí.
Kế hoạch phát triển
Bộ Quốc phòng Mỹ được phân bổ gần 100 triệu USD trong ngân sách năm 2022 cho việc nghiên cứu – phát triển tàu ngầm tấn công hạt nhân thế hệ tiếp theo. Lầu Năm Góc đã yêu cầu bổ sung 237 triệu USD cho chương trình SSN(X) này trong năm tài khóa 2023.
Cho đến nay, nhà chức trách rất kín tiếng về hình dáng hoặc các tính năng của tàu ngầm mới, ngoại trừ hứa hẹn nó sẽ cải thiện tốc độ và các đặc tính tàng hình, “đồng thời mang theo một kho vũ khí lớn hơn cùng tải trọng đa dạng” so với các tàu ngầm trước đó.
Việc đóng các tàu thuộc dự án SSN(X) dự kiến bắt đầu vào đầu những năm 2030, với những chiếc đầu tiên sẽ đi vào hoạt động trong năm 2043.
Với các tàu ngầm mang tên lửa, việc chế tạo lớp Columbia thay thế lớp Ohio đã được xúc tiến. Mỗi tàu ngầm mới trị giá 9,15 tỷ USD, mang theo 16 tên lửa Trident II sẽ bắt đầu thay thế các tàu lớp Ohio vào cuối những năm 2020.
Mỹ dự kiến sẽ trang bị tổng cộng 12 tàu ngầm lớp Columbia cho lực lượng hải quân nước này.Triết lý sử dụng sức mạnh hạt nhân của Mỹ
Cuối tháng 10 năm nay, chính quyền Tổng thống Joe Biden đã công bố bản cập nhật được chờ đợi từ lâu cho học thuyết hạt nhân của Mỹ. Bản Đánh giá tình hình hạt nhân năm 2022 tiếp tục cho phép Mỹ dùng vũ khí hạt nhân tấn công phủ đầu khi xuất hiện “mức độ rủi ro không thể chấp nhận được” của việc các đối thủ gây ra “thiệt hại cấp chiến lược” cho Mỹ cũng như các đồng minh, đối tác nếu Washington từ chối sử dụng hạt nhân trước.
Washington cam kết sẽ chỉ sử dụng vũ khí hạt nhân trong “các trường hợp cực kỳ nghiêm trọng” để bảo vệ lợi ích quốc gia của Mỹ. Tuy nhiên, họ nêu rõ “vẫn còn một số ít tình huống mà vũ khí hạt nhân của Mỹ có thể đóng vai trò ngăn chặn các cuộc tấn công có tác động chiến lược”.
Trung Quốc một lần nữa khiến thế giới đổ dồn sự chú ý vào những tiến bộ trong chương trình tên lửa của nước này, khi thử nghiệm tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) bên ngoài không phận lần đầu tiên sau 44 năm vào tháng trước.
Tên lửa sử dụng trong cuộc thử nghiệm này được cho là DF-31AG, một biến thể của vũ khí thế hệ thứ ba cách đây khoảng hai thập kỷ. Tuy nhiên, quân đội Trung Quốc đã phát triển mẫu ICBM tiên tiến hơn, DF-41 thế hệ thứ tư, có thể bay xa và mang nhiều đầu đạn hơn.

Hình ảnh vụ phóng tên lửa ICBM đầu tiên sau 44 năm của Trung Quốc, ngày 25/9. (Ảnh: SCMP)
DF-41 được phóng vào năm 2017, thuộc dòng tên lửa đạn đạo đất đối đất Dongfeng (Đông Phong).
Đông Phong có nghĩa là “gió đông”, xuất phát từ bài phát biểu của Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông năm 1957 sau khi Liên Xô chuyển giao tên lửa đạn đạo R-2 để giúp Trung Quốc phát triển chương trình của mình. “Hiện nay trên thế giới có hai luồng gió: gió đông và gió tây”, ông Mao nói.
Bắt đầu phát triển vào tháng 7/1986, nguyên mẫu của DF-41 thử nghiệm vào năm 1994 và chuyển giao vào năm 2010 cho Quân đoàn Pháo binh số 2, lực lượng giám sát tên lửa thông thường và hạt nhân của Trung Quốc trước khi chuyển đổi thành Lực lượng Tên lửa vào năm 2016.
Giới quan sát ước tính DF-41 trải qua 6 – 8 cuộc thử nghiệm từ năm 2012 – 2016. Cuộc thử nghiệm đầu tiên diễn ra vào năm 2012 nhưng không thông tin chi tiết nào được tiết lộ.
Vụ thử thứ hai vào năm 2013, DF-41 bay từ trung tâm phóng tên lửa Wuzhai ở tỉnh Thiểm Tây đến mục tiêu thử nghiệm ở miền tây Trung Quốc. Các cuộc thử nghiệm sau đó tập trung vào những công nghệ cụ thể cho tên lửa, chẳng hạn như phương tiện tái nhập mục tiêu độc lập (MIRV).

Hình ảnh ICBM DF-41 trong cuộc duyệt binh mừng 70 năm Quốc khánh Trung Quốc, ngày 1/10/2019. (Ảnh: Tân Hoa Xã)
Sau nhiều thập kỷ phát triển và thử nghiệm, DF-41 lần đầu tiên xuất hiện công khai trong lễ duyệt binh ngày 1/10/2019, kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Việc sản xuất có thể bắt đầu vào cùng năm. Hình ảnh vệ tinh do Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ chụp vào tháng 4 và tháng 5/2019 cho thấy 18 bệ phóng di động cho tên lửa DF-41 tại địa điểm huấn luyện tên lửa gần Jilantai ở Nội Mông, phía bắc Trung Quốc.
Sau DF-31, DF-41 là ICBM thứ hai của Trung Quốc sử dụng nhiên liệu rắn. Những loại vũ khí như vậy không cần phải nạp nhiên liệu ngay trước khi phóng và yêu cầu ít hỗ trợ hậu cần hơn, giúp chúng khó bị phát hiện và có khả năng sống sót cao hơn trong các cuộc tấn công phủ đầu so với vũ khí sử dụng nhiên liệu lỏng, vốn cần thời gian chuẩn bị dài hơn.
Tên lửa DF-41 sử dụng động cơ nhiên liệu rắn ba giai đoạn để đạt tầm bắn từ 12.000 – 15.000 km, đủ khả năng bao phủ toàn bộ lục địa nước Mỹ, với tốc độ lên tới Mach 25.
Công nghệ MIRV áp dụng trên DF-41 cho phép tên lửa mang theo mang theo nhiều đầu đạn, mỗi đầu đạn có khả năng tấn công các mục tiêu khác nhau.
Truyền thông Trung Quốc tuyên bố DF-41 có thể mang tới 10 đầu đạn MIRV với tổng trọng lượng 2.500 kg. Tuy nhiên, giới chuyên gia ước tính tên lửa có thể mang khoảng ba đầu đạn, cùng với các tải trọng bổ sung có thể được dùng làm mồi nhử và những phương tiện hỗ trợ xuyên thủng để vượt qua hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo của Mỹ.
Có ba phiên bản DF-41 đang được sử dụng hoặc phát triển: di động trên đường bộ, di động trên đường sắt và hầm phóng (silo).
Phiên bản di động trên đường bộ được phóng từ bệ phóng di động tám trục, cho phép di chuyển qua nhiều loại địa hình và phóng từ các khu vực xa xôi. Điều này giúp hệ thống có thể triển khai đến nhiều vị trí ẩn nấp, giảm thiểu khả năng bị tấn công.
Ngoài ra, Trung Quốc được cho là đang thử nghiệm phiên bản DF-41 di động trên đường sắt, có khả năng linh hoạt về vị trí; các đoàn tàu có thể được ngụy trang thành tàu chở khách di chuyển với tốc độ cao, đồng thời sử dụng đường hầm để tránh bị vệ tinh phát hiện.
Bắc Kinh cũng có thể đang phát triển phiên bản DF-41 đặt trong hầm phóng. Các hình ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc bắt đầu xây dựng nhiều hầm phóng kích thước phù hợp với DF-41 từ năm 2018, với ít nhất 16 hầm đang được xây dựng tại khu huấn luyện Jilantai tính đến năm 2021.
Hình ảnh vệ tinh từ năm 2021 cho thấy các tổ hợp hầm phóng tương tự như khu Jilantai cũng đang được xây dựng tại Yumen ở tỉnh Cam Túc, phía tây bắc Trung Quốc, Hami ở Tân Cương và Ordos ở Nội Mông. Mỗi địa điểm có hơn 100 hầm phóng.

Thông số kỹ thuật tên lửa DF-41. (Nguồn: SCMP)
So với ba tên lửa đạn đạo liên lục địa tiền nhiệm là DF-4, DF-5 và DF-31, DF-41 tiên tiến nhất. Mặc dù DF-5 cũng có thể bao phủ toàn bộ lục địa nước Mỹ với tầm bắn từ 13.000 – 16.000 km, nhưng lại sử dụng động cơ nhiên liệu lỏng thay vì động cơ nhiên liệu rắn.
Trong khi đó, DF-31 sử dụng động cơ nhiên liệu rắn nhưng tầm bắn hoạt động tương đối ngắn, khoảng 7.200 – 8.000 km, và chỉ có thể mang một đầu đạn. Tuy nhiên, các biến thể của nó, DF-31A và DF-31AG, được cho là có tầm bắn lên tới 13.200 km và trang bị công nghệ MIRV, với khoảng ba đến năm đầu đạn.
Tính đến năm nay, ICBM trên mặt đất duy nhất của Washington đang hoạt động là LGM-30G Minuteman III, với khoảng 400 tên lửa được triển khai tại Mỹ. Minuteman III được giới thiệu vào năm 1970 và có các đặc điểm tương tự như DF-41, bao gồm động cơ nhiên liệu rắn ba giai đoạn và tầm hoạt động khoảng 13.000 km.
Đây cũng là ICBM đầu tiên của Mỹ trang bị công nghệ MIRV để mang ba đầu đạn, mặc dù các tên lửa hiện đang hoạt động đã loại bỏ công nghệ MIRV theo một hiệp ước với Nga năm 1993, cấm sử dụng trên ICBM.
Nga có thể đang phát triển RS-28 Sarmat mới để thay thế ICBM R-36M của Liên Xô. RS-28 Sarmat nằm trong danh sách sáu loại vũ khí chiến lược mới được Tổng thống Nga Vladimir Putin công bố vào năm 2018, được cho là có tầm hoạt động xa nhất thế giới lên đến 18.000 km.
Tháng 4/2022, Moskva tiến hành vụ phóng đầu tiên của Sarmat, hai tháng sau khi tiến hành chiến dịch quân sự đặc biệt ở Ukraine. Tuy nhiên, vụ thử gần nhất vào tháng 9 thất bại, để lại miệng hố rộng khoảng 60 m tại Sân bay Vũ trụ Plesetsk ở miền bắc Nga.

Hệ thống tên lửa đạn đạo liên lục địa RS-28 Sarmat của Nga. (Ảnh: The Strategist)
Cụm từ “răn đe chiến lược” được đề cập trong báo cáo công tác của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 20 năm 2022 và nhắc lại trong hội nghị trung ương lần thứ ba vào đầu năm nay.
Trung Quốc cam kết “tuân thủ nghiêm ngặt chính sách không sử dụng vũ khí hạt nhân trước”, nhấn mạnh lực lượng hạt nhân của họ phát triển để phòng thủ và phản công lại một cuộc tấn công hạt nhân.
Tuy nhiên, Trung Quốc là một trong những nước có kho vũ khí hạt nhân phát triển nhanh nhất trên thế giới. Theo báo cáo của Lầu Năm Góc công bố vào tháng 10 năm ngoái, Lực lượng Tên lửa của quân đội Trung Quốc đang “thúc đẩy các kế hoạch hiện đại hóa dài hạn để tăng cường khả năng ‘răn đe chiến lược’ của mình”, bao gồm phát triển các ICBM mới.
Báo cáo cho biết Trung Quốc đã “tăng gấp đôi và tiếp tục phát triển số lượng bệ phóng tại hầu hết các đơn vị ICBM”. Tính đến năm 2022, cường quốc này có khoảng 350 ICBM, bao gồm DF-31 và DF-41.
Báo cáo của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm vào tháng 7 năm nay ước tính Trung Quốc bổ sung 90 đầu đạn vào kho vũ khí của mình trong năm 2023 và hiện có tổng cộng khoảng 500 đầu đạn. Báo cáo cũng dự đoán trong vòng 10 năm, số lượng ICBM của Trung Quốc có thể vượt qua cả Nga và Mỹ.
ICBM có khả năng tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc răn đe hạt nhân ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương khi cả Trung Quốc và Mỹ đều tìm cách tăng cường năng lực hạt nhân của mình.
Washington tuyên bố bắt đầu thay thế toàn bộ các tên lửa Minuteman III của mình từ năm 2029 bằng một loại ICBM mới có tên LGM-35 Sentinel.Hoa Vũ(Nguồn: SCMP)
Việc Mỹ phát triển tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) Sentinel đánh dấu bước tiến lớn trong việc hiện đại hóa kho vũ khí hạt nhân, tăng cường an ninh quốc gia, đồng thời đặt ra câu hỏi về cán cân chiến lược toàn cầu.
Bước tiến quan trọng
Mới đây, Không quân Mỹ và Tập đoàn Northrop Grumman đã tiến hành thành công cuộc thử nghiệm bắn tĩnh quy mô lớn động cơ tên lửa nhiên liệu rắn giai đoạn một của tên lửa ICBM Sentinel mới, tại cơ sở của tập đoàn ở Promontory, bang Utah.
Bài kiểm tra này rất cần thiết để xác thực thiết kế động cơ và đưa chương trình đến gần hơn với sản xuất và triển khai. “Cuộc thử nghiệm gần đây xác nhận tính chính xác của các mô hình kỹ thuật số, cũng như thúc đẩy động cơ tên lửa nhiên liệu rắn giai đoạn một đạt được trình độ đầy đủ, tiếp theo là các cuộc thử nghiệm hỏa lực tĩnh thành công ở giai đoạn thứ hai và thứ ba”, trang mạng airforce-technology.com nêu rõ.
![]() |
| Cuộc thử nghiệm gần đây đưa động cơ tên lửa nhiên liệu rắn giai đoạn một của tên lửa đạn đạo xuyên lục địa Sentinel tiến tới giai đoạn thử nghiệm đầy đủ. Ảnh: US Air Force |
Chuẩn tướng William Rogers, người đứng đầu chương trình ICBM Sentinel của Không quân Mỹ, nhấn mạnh tầm quan trọng của cuộc thử nghiệm như một phần của quá trình hiện đại hóa bộ ba hạt nhân của Mỹ.
Theo ông Rogers, cuộc thử nghiệm thành công này là một chỉ báo rõ ràng về sự tiến bộ, báo hiệu rằng Không quân đang có những bước đi nhằm triển khai một hệ thống răn đe chiến lược đáng tin cậy. Chương trình ICBM Sentinel có mục đích tăng cường thành phần trên bộ của bộ ba hạt nhân Mỹ, một sự cân bằng quan trọng để duy trì khả năng răn đe.
Các chuyên gia từ Trung tâm Vũ khí Hạt nhân Không quân và Northrop Grumman hiện đang phân tích kết quả để xác nhận tính hiệu quả và độ chính xác của cuộc thử nghiệm này.
ICBM Sentinel, có tên gọi chính thức là LGM-35A, là tên lửa đẩy ba tầng, được kết hợp các vật liệu và công nghệ thiết kế mới. Với tầm bắn hơn 5.500 km, Sentinel được thiết kế để cung cấp khả năng răn đe chiến lược lâu dài.
Sự phát triển của ICBM Sentinel được hỗ trợ bởi các hoạt động bảo trì và đào tạo tại nhiều cơ sở khác nhau, bao gồm cả Căn cứ Không quân Hill ở Utah. Cơ sở hạ tầng hiện có liên quan đến ICBM Minuteman III sẽ được nâng cấp hoặc thay thế khi cần thiết, để đáp ứng các yêu cầu hoạt động của hệ thống vũ khí mới.
Việc hiện đại hóa hệ thống Sentinel phản ánh cam kết của Không quân Mỹ trong việc duy trì khả năng răn đe hạt nhân đáng tin cậy – nền tảng của an ninh quốc gia. Mặc dù chương trình không làm tăng số lượng tên lửa hạt nhân mặt đất trong tình trạng báo động tại Mỹ, nhưng nó bảo đảm rằng các hệ thống này vẫn đi đầu về công nghệ và hiệu quả.
Sự chuyển đổi từ ICBM Minuteman III sang ICBM Sentinel
Theo Báo cáo của Congressional Reasearch Service công bố tháng 2-2025, bộ ba hạt nhân của Mỹ gồm ICBM, tàu ngầm tấn công hạt nhân (SSBN) và máy bay ném bom chiến lược.
Một ICBM của Mỹ có thể đạt tới mục tiêu trên toàn cầu trong khoảng 30 phút sau khi phóng. Trong ba phút đầu tiên, ba động cơ tên lửa nhiên liệu rắn cung cấp năng lượng chuyến bay của tên lửa. Sau phần bay có động cơ, tên lửa bay theo quỹ đạo parabol hướng tới mục tiêu. Tên lửa phóng đầu đạn trong giai đoạn giữa hành trình của chuyến bay và đầu đạn tiếp tục bay tới mục tiêu.
Mỹ bắt đầu triển khai ICBM có đầu đạn hạt nhân vào năm 1959 và duy trì các hệ thống này “trong tình trạng báo động” hoặc có thể khởi động nhanh chóng. Không quân Mỹ đã thử nghiệm tên lửa ICBM Minuteman III có tầm bắn 13.000km. Mỹ đặt ICBM của mình trong các silo (giếng) bê tông cứng tại các căn cứ ở Bắc Dakota, Montana, Wyoming, Colorado và Nebraska.
![]() |
| Hình minh họa tên lửa đạn đạo xuyên lục địa Sentinel, biểu tượng cho sự hiện đại hóa khả năng răn đe hạt nhân của Mỹ. Ảnh: innovant.fr |
Một khi Tổng thống Mỹ cho phép phóng tên lửa, ICBM không thể bị thu hồi hoặc phá hủy trong khi bay. Điều tương tự cũng đúng với tên lửa hạt nhân được phóng từ tàu ngầm của Mỹ. Ngược lại, máy bay ném bom chiến lược của Mỹ có thể quay trở lại căn cứ mà không thả vũ khí.
Không quân Mỹ lần đầu tiên triển khai ICBM Minuteman trong những năm 1960. Minuteman III, hiện đang được triển khai trong cấu hình đầu đạn đơn, đã được đưa vào sử dụng từ những năm 1970. Không quân Mỹ đã thay thế và cập nhật nhiều thành phần các hệ thống trên tên lửa Minuteman III – một quá trình được gọi là kéo dài tuổi thọ – nhiều lần trong 50 năm qua. Không quân Mỹ tuyên bố rằng, một số thành phần này có thể phải đối mặt mối quan tâm về độ tin cậy, khi chúng đạt đến ngưỡng tuổi thọ.
Sau khi tiến hành phân tích các phương án thay thế, năm 2014, Không quân Mỹ quyết định thay thế Minuteman III bằng một loại hệ thống tên lửa mới (ban đầu là Hệ thống răn đe hạt nhân chiến lược trên bộ) sẽ phục vụ đến năm 2075. Không quân Mỹ cho rằng, ICBM mới sẽ đáp trả được các mối đe dọa hiện tại và tương lai, duy trì cơ sở công nghiệp, sản xuất hệ thống vũ khí mô-đun và giảm chi phí quay vòng.
Theo trang mạng les-crises.fr, năm 2020, tập đoàn Northrop Grumman đã được Bộ Quốc phòng Mỹ và Không quân Mỹ trao một hợp đồng trị giá 13,3 tỷ USD để thiết kế và sản xuất tên lửa ICBM Sentinel, nhằm thay thế kho vũ khí hiện tại gồm 500 tên lửa Minuteman III. Vào thời điểm đó, Lầu Năm Góc ước tính tổng chi phí cho chương trình ICBM Sentinel thế hệ tiếp theo, bao gồm nhiều thập kỷ hoạt động và hỗ trợ, có thể là 264 tỷ USD.
Không quân Mỹ và Northrop Grumman dự kiến sẽ đưa ICBM Sentinel thay thế Minuteman III từ năm 2029, với thời gian hoạt động kéo dài đến năm 2075.
PHƯƠNG LINH (tổng hợp)
Tháng 10-2023, Tổng thống Vladimir Putin tiết lộ Nga đang sản xuất hàng loạt tên lửa đạn đạo chiến lược RS-28 Sarmat. Ông nhấn mạnh tên lửa đã vượt qua các cuộc thử nghiệm cấp nhà nước và sẵn sàng đưa vào thực chiến.
Được nhiều phương tiện truyền thông gọi phổ biến bằng cái tên Satan II, RS-28 Sarmat là vũ khí được Nga ca ngợi là “tên lửa uy lực nhất thế giới”.
![]() |
| Tháng 10 năm ngoái, Tổng thống Vladimir Putin tiết lộ Nga đang sản xuất hàng loạt tên lửa đạn đạo chiến lược RS-28 Sarmat. Ảnh: The Strategist |
RS-28 Sarmat là hệ thống tên lửa đạn đạo liên tục địa thế hệ mới của Nga do Trung tâm Tên lửa quốc gia Makeev thiết kế và Nhà máy chế tạo Krasnoyarsk sản xuất, nhằm thay thế tên lửa đạn đạo R-36M2 Voyevoda, vốn hoạt động trong Lực lượng tên lửa chiến lược Nga từ năm 1988.
Quá trình phát triển RS-28 Sarmat bắt đầu từ năm 2009 và được ra mắt vào tháng 8-2019 tại Diễn đàn kỹ thuật quân sự. Đến tháng 2-2021, Nga tiến hành sản xuất tên lửa đạn đạo này. Ngày 20-4-2022, Sarmat được phóng thử lần đầu tiên từ sân bay vũ trụ quân sự Plesetsk ở vùng Arkhangelsk, miền bắc nước Nga.
RS-28 Sarmat được phóng từ giếng phóng tương tự tên lửa R-36M2 Voyevoda. Tên lửa có thể được vận chuyển bằng đường sắt từ nơi sản xuất đến đơn vị quân đội hoặc đặt trên xe moóc bốn trục kéo bởi một xe tải hạng nặng.
Theo nhà sản xuất, RS-28 Sarmat có chiều dài 35,5m, đường kính 3m và có trọng lượng phóng là 208,1 tấn. Tầm bắn của tên lửa lên tới 18.000km, cho phép tấn công hầu hết mọi vị trí trên Trái đất với sai số chỉ khoảng 500m. Tên lửa chủ yếu được làm bằng hợp kim nhôm-magie bền hơn, nhẹ hơn và mang được tải trọng lớn. Vật liệu composite cũng được sử dụng trong hộp bảo quản và thùng phóng để làm giảm tín hiệu radar.
RS-28 Sarmat là tên lửa đạn đạo 3 giai đoạn sử dụng nhiên liệu lỏng, được trang bị đầu đạn hồi quyển tấn công đa mục tiêu độc lập (MIRV) và có thể mang lượng nhiên liệu nặng 178 tấn. Tên lửa này thể mang theo từ 10 đến 15 đầu đạn hạt nhân ước tính có sức công phá hàng chục megaton. Tên lửa cũng được trang bị nhiều loại mồi bẫy để đánh lừa hệ thống phòng thủ đối phương.
RS-28 Sarmat được trang bị động cơ RD-274 ở giai đoạn đầu và các đầu đạn trên Sarmat có thể lao tới mục tiêu ở vận tốc Mach 20,7 (khoảng 25.500 km/giờ), với quỹ đạo bay phức tạp, gần như không thể đánh chặn.
| Thực hiện: QUỲNH OANH. Nguồn: Defense TV |
QUỲNH OANH (Theo Army Recognition, Bulgarian Military)











